Monday, 31 July 2017

Đặc điểm Vịnh Xuân Quyền

Bàn về hệ thống kỹ thuật của Vịnh Xuân quyền, trên sự quan sát bề nổi của nhiều người, đó là cảm nhận về một hệ thống khá đơn giản với vài ba bài quyền, một bài côn, một bài đao và một bài mộc nhân thung. Thật hiếm có một võ phái nào khác chỉ dựa trên nền tảng một vài bài quyền và bài binh khí như vậy. Tuy nhiên, Vịnh Xuân quyền không nhấn mạnh vào tính hình thức và do đó rất khó khăn để trở thành một hệ thống để biểu diễn. Các bài quyền không phản ánh tính chất quy ướccho các chiêu thức, phân thế cụ thể từng chiêu tấn công hay phòng thủ (chẳng hạn như một số võ phái dạy đòn thế theo kiểu khi đối phương đấm thì ta đỡ thế nào và phản công ra sao), mà là những nguyên lý tấn công và phòng thủ rất cần sự sáng tạo của môn sinh khi ứng dụng thực chiến.

Theo những võ sư Vịnh Xuân lão luyện, yếu lĩnh tự nhiên tính được đề cao hàng đầu, vì vậy những người cố gắng theo đuổi vẻ đe dọa bên ngoài của động tác sẽ không bao giờ phát triển được trong môn võ này. Kỹ thuật các dòng Vịnh Xuân quyền trên thế giới cho thấy tính chất "đại đồng tiểu dị" với những điểm giống nhau là căn bản, bao gồm trong nó những nguyên lý xuyên suốt khi luyện tập các bài quyền; khái niệm "xả kỷ tòng nhân" (quên mình theo người), "thính kình" (nghe lực), "tâm ứng thủ" (khi đầu óc nghĩ đến một đòn đánh là chân tay thực hiện thành công); hệ thống đòn chân không có đá xoay người hay đá bay; hệ thống thủ pháp nhu nhuyễn nhưng nhanh và mạnh như roi quất; tấn pháp kiềm dương mã tự, xước mã (đạp bộ); công phu niêm thủ, niêm cước, trao đổi thân, niêm côn và đao; và các bài luyện tập trên mộc nhân trang.

Sunday, 30 July 2017

Tấn Nhị Tự Kiềm Dương Mã

Kiềm dương tấn, còn gọi là Kiềm dương mã tựNhị tự kiềm dương mã là một thế tấn đặc thù của Vịnh Xuân Quyền, bao gồm hai dạng thức là chính thân kiềm dương và trắc thân kiềm dương.

Trong Vịnh Xuân Quyền, tấn pháp được áp dụng thường xuyên nguyên lý chiều cao của tấn tỷ lệ nghịch với độ vững chãi và tỷ lệ thuận với độ linh hoạt, theo đó tấn pháp càng thấp cơ thể càng vững nhưng tính linh hoạt lại giảm. Kiềm dương mã tự cũng không phải là ngoại lệ, việc tập luyện tấn pháp này không nhấn mạnh sự cố định một cao độ của người luyện tập, mà có thể linh động, kết hợp với những bài tập tấn ở nhiều cao độ khác nhau, cả ở những tư thế rất thấp tới mức cơ thể gần như ngồi trên mặt đất.
Tấn pháp kiềm dương, với chữ kiềm (鈐) tương đối dễ hiểu là "kìm", "kẹp", "giữ". Nhưng chữ dương có vài cách hiểu khác nhau: "dương" (羊) với nghĩa là con , khi đó tấn sẽ được hiểu là thế "kẹp dê", "giữ dê".
Theo huyền sử thì Ngũ Mai sư thái đã cho nàng Nghiêm Vịnh Xuân tập chăn  và tắm cho các con dê bằng cách dùng hai chân kẹp chặt đầu và cổ con vật, từ đó sẽ rèn luyện được nội lực và tấn pháp trước khi bước vào tập võ (bộ phim Vịnh Xuân Quyền do các diễn viên Tạ Đình PhongHồng Kim Bảo và Nguyên Bưu đóng, diễn tả ý nghĩa này).
Tuy nhiên, theo cách hiểu khác với chữ "dương" (陽) chỉ "mặt trời", "dương tính", "dương khí", "đàn ông", "bộ phận sinh dục của giống đực", kiềm dương tấn là thế tấn duy nhất ở chính diện có đủ kín đáo, do đầu gốihơi khép vào trong và có thể nhanh chóng kẹp chặt hai đùi, để thủ thế và bảo vệ vững chắc trước những đòn tấn công vào hạ bộ, ít nhiều linh hoạt và hiệu quả hơn hẳn trung bình tấn. Đi xa hơn trong suy luận, một số người cho rằng kiềm dương ở đây nhằm mục đích luyện khí, mà luyện khí chủ yếu phải kiềm dương (tiết dục).

Saturday, 29 July 2017

Lục điểm bán côn

Theo lịch sử Vĩnh Xuân có để lại 2 bài binh khí là lục điểm bán côn và bát trảm đao. Hệ thống Vĩnh Xuân Việt Nam ít khi thấy nhắc đến 2 loại binh khí này hoặc có thể các vị sư phụ chỉ dạy bí truyền cho số ít các đệ tử. Không ai biết bài côn này tập trong giai đoạn nào của Vĩnh Xuân, theo lý lẽ thông thường nhiều người sẽ cho rằng binh khí luôn là bài tập cuối cùng nhưng lục điểm côn không như vậy.

Lục điểm bán côn dài 6 tấc rưỡi (tầm 2m) mô phỏng theo cách đánh của mái chèo khi sử dụng trên thuyền, dùng nguyên lý triệt và xung lực của tầm kiều làm chủ, niêm của tiểu niệm đầu và bước đầu tập sự chính xác của điểm trong tiêu chỉ.
Vinh Xuân được chia ra làm 3 giai đoạn như đã nói, mỗi giai đoạn chú trọng đến những bài tập với mục đích khác nhau. Nếu như vượt qua giai đoạn căn bản, với linh giác sẵn có, sự lỏng của cơ thể đã được trải qua thời gian tập luyện tương đối công phu, thì giai đoạn phát triển tiếp theo sẽ là sự phát triển về kình lực.
Với nguyên lý đoản kiều phát lực, chữ “kình” trong Vĩnh Xuân là khái niệm nhiều người không hiểu rõ. Nếu như các môn võ khác như tán thủ, quyền anh, karate… lực phát lấy tốc độ, sức mạnh cơ bắp cộng với sự chuyển động của chân, hông, vai làm chủ thì Vĩnh Xuân lại phát lực theo một hướng hoàn toàn khác, sự cộng hưởng của các khớp từ cổ chân ra đến cổ tay với xung lực “rung” cùng một tần số cùng với tốc độ sẽ tạo ra lực cộng hưởng mạnh vô cùng và sức phá hủy của nó sẽ lan ra theo sóng rung đó.
Đây là lí do tại sao Vĩnh Xuân chỉ phát quyền có 1 inch mà Lý Tiểu Long đã làm vang danh thiên hạ. Sự tập luyện để hiểu được Kình của Vĩnh Xuân thực sự vô cùng gian nan, khó có thể giải thích cho môn sinh trong một sớm một chiều mà nó là cả một quá trình nuôi dưỡng từ gốc, khổ luyện mới cảm nhận và hiểu được nó. Giai đoạn trung đẳng với Tầm kiều , sử dụng nguyên lý triệt làm trọng, chú trọng vào phát triển kình lực của Vĩnh Xuân, và Lục điểm bán côn cũng không nằm ngoài mục đích đó.
Việc điều khiển côn dài đã là một vấn đề khó, vấn đề khó hơn nữa là rung kình lực từ toàn thân ra đến đầu côn. Trải qua một thời gian luyện tập với lục điểm bán côn,  người luyện võ nên tập với côn nặng trước, sau khi đã quen vói những đường côn cơ bản, người tập sẽ bước vào giai đoạn luyện gân cốt bằng cách nâng vật nặng ở đầu côn và sau cùng là độ chính xác của “điểm côn”. Một kỹ thuật nữa cũng cần luyện tập trong giai đoạn này đó là “niêm côn”, với những ai đã từng tập Vĩnh Xuân, niêm tay đã là một kỹ thuật khó, thì niêm côn trong lục điểm côn còn khó hơn gấp bội, linh giác của người tập sẽ bước lên một đỉnh cao mới nếu vượt qua giai đoạn này.

Friday, 28 July 2017

Lịch sử Mộc nhân thung

Mộc nhânMộc nhân thung hay Mộc nhân trang (cọc/cột [hình] người gỗ) là một dụng cụ tập luyện đối kháng trong một số hệ phái võ thuật Trung Hoa, đặc biệt là các môn xuất phát từ Nam Trung Hoa như Thiếu Lâm pháiVịnh Xuân quyềnThái Lý Phật. Hiện nay, theo sự lan tỏa của các dòng phái võ thuật xuất phát từ châu Á, mộc nhân thung đã được sử dụng rộng rãi trên toàn thế giới.

Những dụng cụ tập luyện bằng gỗ đã được sử dụng từ lâu đời, tuy nhiên không ai có thể chứng minh được mộc nhân thực sự được dùng từ bao giờ, 2100 năm hay thậm chí xa hơn, tới 3200 năm về trước. Sử gia Tư Mã Thiên trong những ghi chép tại Sử ký có nhắc tới hoàng đế Vũ Ất đời nhà Thương (khoảng năm 1200 trước Công nguyên) với dụng cụ mang tên "Ou Ren" (Âu Nhân, hình nhân bằng gỗ) sử dụng trong luyện tập "Shou Bo" (Thủ bác, đánh tay không)[1].
Dù huyền thoại về điều kiện phải chiến thắng 108 mộc nhân để chứng tích võ công trước khi được hạ sơn của các cao tăng Thiếu Lâm tự rất nổi tiếng, các nhà nghiên cứu vẫn không tìm thấy dấu tích của mộc nhân tại Tung Sơn, và mộc nhân thung pháp vẫn là dụng cụ tập luyện đặc thù của các võ phái Thái Lý PhậtHắc Hổ Môn ở Hồng Kông, và Vịnh Xuân quyền

võ sư Phan Dương Bình

Sinh ngày 10/10/1929 trong một gia đình làm nghề thuốc bắc ở 88 phố Hàng Buồm (Hà Nội), từ năm 1943 võ sư Phan Dương Bình đã lần lượt theo học Vịnh Xuân quyền với cụ Nguyễn Tế Công (Tổ sư của Vịnh Xuân quyền tại Việt Nam), Hồng Gia quyền với cụ Chung Cảnh Vân (cả hai cụ đều là người gốc Trung Quốc) và từ năm 1949 là Vovinam với cụ Nguyễn Lộc (người sáng lập Vovinam)

Sau thời gian làm trợ giáo cho cụ Nguyễn Lộc tại Hà Nội và Sài Gòn, võ sư Phan Dương Bình còn tập Vịnh Xuân quyền với cụ Trần Thúc Tiển (một học trò của cụ Tế Công tại Hà Nội), cùng nghiên cứu, trao đổi Vịnh Xuân quyền với ông Lục Vĩnh Khai (một học trò khác của cụ Tế Công tại thành phố Hồ Chí Minh) và ông Trần Nghị Khiêm (phái Vịnh Xuân quyền chi nhánh Hồng Kông, học trò của cụ Ngũ Sáng - học trò nổi tiếng của Tông sư Diệp Vấn). 
Dựa trên cơ sở Vịnh Xuân quyền, có bổ sung một số triết lý, kỹ thuật và phương pháp tập luyện của Hồng Gia quyền và Vovinam, võ sư Phan Dương Bình đã thành lập Vịnh Xuân Phan Gia với mong muốn góp phần vào sự phát triển của Vịnh Xuân quyền nói riêng cũng như nền võ thuật Việt Nam nói chung. Ngày 10/10/2001, theo yêu cầu của bạn bè trong và ngoài nước cùng nguyện vọng của các học trò, võ sư Phan Dương Bình đã chính thức công bố thành lập chi phái. 

Vịnh Xuân Phan Gia có lịch sử phát triển thực tế 50 năm tại Hà Nội (công bố chính thức 10/10/2001) và bên cạnh số môn sinh đại trà đã đào tạo được hàng trăm môn sinh ưu tú cho nền võ thuật Việt Nam. Dưới võ sư Phan Dương Bình, trưởng tràng của chi phái hiện nay là võ sư Nguyễn Đức Long được nhiều người trong giới võ thuật trong và ngoài nước biết đến. 

Wednesday, 26 July 2017

Thuật dưỡng sinh trong Vịnh Xuân Quyền


Vịnh Xuân Quyền là một bộ môn nhu quyền. Ngắn gọn, đơn giản nhưng thâm thuý. Để chia sẻ cùng mọi người đam mê Vịnh Xuân tôi cũng chỉ hiểu về dưỡng sinh mà thôi chứ không tinh thông quyền cước.
Vịnh Xuân thuộc âm nhu, với nguyên lý lấy lỏng mềm làm căn bản mà lỏng mềm là sự quyết định thành công của môn võ này.  

Cơ thể con người càng mềm mại bao nhiêu thì càng giúp khí huyết vận hành lưu thông, vinh vệ sẽ xuyên suốt cơ thể tạo nên một nguồn năng lượng vững chắc giúp cơ thể cường tráng và khai ngộ được tâm pháp thì ngoài các phương pháp như niêm thủ, ly thủ, tiến lùi, luyện kình thì Vịnh Xuân lấy thiền định là kim chỉ nam để dẫn tới thành công.
Vậy thiền là gì? Thiền còn có tên gọi là Zen (Nhật Bản)  và nhiều tên gọi khác theo văn hoá của các nước phương đông. Tôi đã viết nhiều trong các bài viết khác, nay chỉ giới thiệu qua mà thôi. Thiền định còn được gọi là thuật đạo dẫn (thổ, nạp) của nhiều môn võ và các nho gia khác. Với Vịnh Xuân tham thiền chỉ là phương pháp thở, chứ không liên quan gì đến thần thánh hay Tâm Linh. Với mục đích đưa oxy trong không khí vào tĩnh mạch phổi và đào thải COtừ động mạch phổi.  Thân lấy tâm làm chủ, nhưng phổi lại quyết định sự sống.  Phổi chủ khí, thu, nạp phân phối và điều hoà cung cấp oxy cho lục phủ ngũ tạng con người.  Vạn vật không có khí thì tiêu tan, con người không có oxy thì không tồn tại, chính vì vậy phổi có tầm quan trọng to lớn trong thuật dưỡng sinh học. Ngoài ra huyết cũng là một nhân tố quan trọng, huyết được tạo ra bởi  ngũ cốc và các chất dinh dưỡng là nguồn năng lượng duy trì và phát triển sự sống. Khí và huyết đều không thể tách rời nhau được. Khí là dương, huyết thuộc âm. Âm dương tương tế thì cùng tồn tại, nếu mất cân bằng  cơ thể ắt sinh bệnh tật. Khí huyết vận hành trơn tru, thì da dẻ tươi nhuận hồng hào. Khí trệ huyết trệ sinh chứng: sắc mặt xanh mệt mỏi, vô lực, lưỡi nhạt, mồm bệu rêu trắng mạch hư. Thở là một phương pháp quý, theo tôi nó vi diệu vô cùng. Thở nhiều thì dạ dày (vị)  sẽ mở ra, tác động vào các niêm mạc làm nhu động cửa dạ dày càng tăng cường được khả năng tiêu hoá tốt giúp cho tỳ truyển hoá thức ăn tạo thành máu chuyển vào gan. Quá trình vận hoá tân dịch là do sự chung sức và hợp tác với nhau của tỳ (lá lách) và vị (dạ dày) mà nên, tân dịch trong vị do tỳ hấp thụ thông qua kinh mạch túc thái âm và vận chuyển vào qua kinh túc dương minh vị với thái âm kinh, có quan hệ biểu lý với nhau cho nên tân dịch được tỳ hấp thụ cũng thông qua đường kinh túc dương minh mà phân bố đến 5 kinh dương. Sau nhiều năm im bóng, giờ Vịnh Xuân như hoa nở, khắp nơi trên thế giới nhiều chi phái, võ đường phát triển, không phải nó là một môn võ hay mà chính hay ở chỗ thuật dưỡng sinh lớn vì vậy thở thiền mang nặng một vai trò lớn, đóng góp và quyết định vào sự tồn tại của cơ thể. Nếu chỉ nhìn vào hình pháp của Vịnh Xuân thì người học thấy nó đơn giản mộc mạc, không hoa mỹ, không uy lực, sức hấp dẫn không đủ làm cho người tập thiếu đam mê. Cho nên người tập thiền lòng kiên nhẫn, ý trí không đủ thì  Vịnh Xuân có xác mà không có hồn. 

Tuesday, 25 July 2017

Đặc điểm chính của môn võ Vịnh Xuân Quyền

Về đặc điểm thì hiếm khi nào người ta thấy một môn võ mà chỉ hình thành đơn giản dựa trên vài ba bài quyền, một bài côn, một bài đao và 1 bài mộc nhân thung. Thế nhưng Vịnh Xuân Quyền không mang tính hình thức. Không như các môn võ khác là dạy đấm thế này thì phải đỡ ra sao. Mà cái này hoàn toàn dựa vào tính linh hoạt của môn sinh. Môn sinh phải biết áp dụng vào thực tế các đòn thế một cách linh họạt, nhanh nhẹn và đúng lúc. Nói chung là cần sự sáng tạo khi chiến đấu.

Theo những võ sư Vịnh Xuân lão luyện, yếu lĩnh tự nhiên tính được đề cao hàng đầu, vì vậy những người cố gắng theo đuổi vẻ đe dọa bên ngoài của động tác sẽ không bao giờ phát triển được trong môn võ này. Kỹ thuật các dòng Vịnh Xuân quyền trên thế giới cho thấy tính chất “đại đồng tiểu dị” với những điểm giống nhau là căn bản, bao gồm trong nó những nguyên lý xuyên suốt khi luyện tập các bài quyền; khái niệm “xả kỷ tòng nhân” (quên mình theo người), “thính kình” (nghe lực), “tâm ứng thủ” (khi đầu óc nghĩ đến một đòn đánh là chân tay thực hiện thành công); hệ thống đòn chân không có đá xoay người hay đá bay; hệ thống thủ pháp nhu nhuyễn nhưng nhanh và mạnh như roi quất; tấn pháp kiềm dương mã tự, xước mã (đạp bộ); công phu niêm thủ, niêm cước, trao đổi thân, niêm côn và đao; và các bài luyện tập trên mộc nhân trang.
Hệ thống quyền của môn phái theo truyền thống khá đơn giản với ba bài quyền ứng với trình độ môn sinh từ sơ cấp, trung cấp đến cao cấp gồm: Tiểu Niệm Đầu, Tầm kiều và Tiêu chỉ.  Nhiều dòng phái Vịnh Xuân hiện nay có chương trình quyền pháp khá khác biệt, với những bài như Thập nhị thức, hệ thống Ngũ hình quyền, Vĩnh xuân quyền (bài quyền), Khí công quyền (còn gọi là Vịnh xuân khí công, Bối khí quy chi), Hạc hình thủ bộ, Tiểu mai hoa, Đại mai hoa v.v. và có thể không có hai bài Tầm kiều, Tiêu chỉ. Tuy nhiên, những bài tập rời với những nguyên lý, kỹ pháp của Tầm kiều, Tiêu chỉ vẫn được truyền dạy như cơ bản công và cơ bản kỹ thuật trong suốt những năm tháng môn sinh đến với Vịnh Xuân quyền.

Monday, 24 July 2017

Con đường Vĩnh Xuân


https://www.wattpad.com/432564269

Sức mạnh trong bài Tiểu Niệm Đầu

Tiểu Niệm Đầu là bài quyền được dùng để lập niệm – tức để tạo ra ý niệm ở trong tư duy. Người luyện võ phải luyện bài quyền này thật nhiều thì mới có thể hiểu được bản chất của “lập niệm”.
Qua luyện tập một thời gian dài, người tập sẽ nhận ra mối liên hệ giữa lập niệm và hình thế. Từ đó cảm thấy sự tiến bộ của mình, khiến người tập luyện ngày càng hăng say.
Có một số loại lực rất mạnh mẽ tiềm ẩn trong các động tác của bài quyền. Tất cả các động tác đều có thể phát ra sức mạnh rất lớn dù vẻ ngoài lại trông rất mềm mại, uyển chuyển. 


Về bản chất, Tiểu Niệm Đầu có 2 điểm mấu chốt: niệm lực và cấu trúc.
NIỆM LỰC (sức mạnh của ý niệm) giúp cân bằng các chuyển động trong Vĩnh Xuân để hình thành một cấu trúc cơ thể có tính đàn hồi cao và khả năng phát lực tối đa, giúp cơ thể có khả năng giữ cân bằng trước những áp lực lớn và tạo ra phản lực. 
Niệm lực là sức mạnh của một tâm trí có sự tập trung cao độ, giúp đưa sức lực đến các phần khác nhau của cơ thể. Mỗi người chúng ta đều có thể đạt được khả năng này. Tuy nhiên, nếu không qua tập luyện, thì chúng ta sẽ khó có thể tập trung được tâm trí. Tiểu Niệm Đầu chính là công cụ để chúng ta thức tỉnh thứ sức mạnh tập trung này. Nếu luyện tập đúng, bạn sẽ có thể phóng thích nguồn năng lượng này theo ý muốn trong mọi trường hợp. Tâm trí của bạn sẽ có thể tập trung ngay cả khi bạn đang thay đổi cấu trúc hay đang di chuyển với tốc độ cao. Vì thế, mục tiêu của Tiểu Niệm Đầu chính là để đạt được niệm lực.
CẤU TRÚC
Thế tấn nhị tự kiềm dương mã cho phép một người phóng thích tất cả năng lượng về phía đối thủ. Việc giữ phẳng phần lưng phía dưới sẽ giúp cơ thể tạo thành một khối. Nó cũng giúp cơ chân được thả lỏng trong lúc đứng tấn, vì thế cơ thể sẽ đạt trạng thái tỉnh táo cao độ và luôn sẵn sàng. Đây là những điều kiện quan trọng để tạo ra niệm lực và cần được duy trì liên tục. Những kỹ năng cơ bản của Tiểu Niệm Đầu như Than, Bàng, Phục thủ cũng là những thế để cơ thể đạt hiệu quả cơ học tối đa.
Ba thế tay trên tạo ra hình dáng đường cung tròn. Khi chúng ta nới rộng đường cong tạo ra bởi 3 thế tay trên, Than, Bàng, Phục thủ trở thành các hình bán cầu. Như chúng ta đã biết, một vật thể có hình dáng tròn hay bán cầu thì có khả năng chịu lực rất lớn. Nó cũng có thể làm chệch hướng của lực rất tốt khi được xoay tròn. Một bánh xe có thể tăng tốc nhanh hơn những vật thể có hình dáng khác. Mỗi vận động của Tiểu Niệm Đầu đều lấy nguyên lý từ cấu trúc hình vòng cung này, và khi được kết hợp cùng niệm lực, sẽ trở thành những chiêu thức mạnh mẽ trong cả công và thủ.
Thêm vào đó, người tập nhất định không được sử dụng lực thô của cơ bắp. Người luyện tập Tiểu Niệm Đầu đúng sẽ không thấy mệt. Để thành thục được khâu cơ bản này, tất cả các chuyển động phải được hình dung quán tưởng trong tư duy, và dùng sức mạnh của ý niệm để điều khiển chuyển động.
Nhiều người tập Vĩnh Xuân thích áp đặt những kỹ thuật của mình vào các tư thế tĩnh. Nhiều người tin rằng bàng thủ cần phải được thi triển ở một độ cao và góc độ nhất định, và từ đó chỉ trích những người không tuân thủ theo các chuẩn mực mà họ cho là đúng. Một số khác lại gọi phong cách này là phong cách truyền thống; phong cách kia là phong cách lai căng, vân vân và vân vân. Thực ra thì các chuyển động trong Tiểu Niệm Đầu không phải là những chiêu thức dùng ở thế đứng yên.

Cụ Nguyễn Tế Vân là sư huynh của Diệp Vấn

Diệp Vấn là học trò của Trần Hoa Thuận, vì thế xét trên vai vế thì ông chính là sư đệ của Tế Vân. Nhưng thực chất, Tế Vân đã từng là người từng trực tiếp truyền dạy kung-fu nên có thể coi ông chính là sư phụ của Diệp Vấn.


Cụ Tế Công thi triển mộc nhân thung.


Như vậy, vô hình chung, võ thuật của Diệp Vấn, Lý Tiểu Long so với Vĩnh Xuân Việt Nam tưởng chừng chẳng có một mối quan hệ nào nhưng thực chất lại khá gần gũi.
Về sau, Tế Công và Diệp Vấn, mỗi người đi theo một con đường riêng. Diệp Vấn phát triển dòng Vĩnh Xuân Hồng Kông và trở thành Nhất đại tông sư còn cụ Tế Công lại truyền bá Vĩnh Xuân sang Việt Nam.
Song, có một điều đáng tiếc cho đến nay vẫn là một dấu hỏi, bởi không biết vì lý do gì mà giữa Diệp Vấn và Tế Công sau khi đường ai nấy đi, hai người đã không còn duy trì một mối quan hệ nào nữa. Cũng vì thế, không nhiều người biết rằng hai vị cao thủ này từng chính là thầy trò.

Võ sư Vịnh Xuân chính thức gửi lời tuyên chiến tới võ sỹ Cung Lê,

Sáng 22/7 trên trang Facebook của võ sư Vịnh Xuân Canada Pierre Flores có gửi thông điệp thách đấu tới nhà cựu vô địch MMA, người Mỹ gốc Việt - Cung Lê. Mới nhất, trên trang facebook cá nhân, Cung Lê đã tuyên bố nếu giao đấu, anh sẽ hạ Pierre Florestrong 1 phút. 


Hiện tại, 2 bên vẫn chưa chính thức chốt về trận thử sức này. Nếu có cuộc “tỉ thí” Pierre Flores - Cung Lê, đó sẽ là một trận đấu được làng võ Việt chắc chắn quan tâm.
Một khi cuộc đấu diễn ra, nó sẽ thi đấu theo kiểu truyền thống với "3 Không", điều kiện từ võ sư Flores: Không đeo gang - Không mũ bảo hiểm - Không hoãn trận đấu". Động thái này cho thấy Flores muốn chơi một trận "sống mái" với Cung Lê, người trước đó bị võ sư người Canada đánh giá từng có những câu nói có phần bênh vực Chưởng môn Nam Huỳnh Đạo, Huỳnh Tuấn Kiệt và coi thường Flores. 

Sunday, 23 July 2017

Võ sư Flores tiếp kiến Vovinam

Không thỏa nguyện thách đấu với võ sư chưởng môn Nam Huỳnh Đạo Huỳnh Tuấn Kiệt, võ sư Vịnh Xuân Nam Anh Francoise Flores ngỏ ý tiếp kiến võ sư Chánh chưởng quản môn vovinam với bức thư như sau "võ sư Flores gửi thư ngỏ đến võ sư Chánh chưởng quản môn phái vovinam với nội dung như sau:Kính thấy Nguyễn Văn Chiếu và môn phái vovinam Việt Võ Đạo. Chúng em là những môn sinh, học trò của Đại võ sư Nam Anh tại Canada. Chúng em từng biết, nghe nói về môn phái vovinam Việt Võ Đạo và những thành công của môn phái trên võ đường thế giới.
Là những người luyện tập võ dưới sự dìu dắt của bậc thầy người Việt, Đại sư Nam Anh luôn dạy chúng em luôn trân trọng văn hóa, con người và nền võ thuật Việt Nam. Đặc biệt là tôn trọng môn võ đặc trưng của -vovinam Việt Võ Đạo. Trong chuyến viếng thăm người Việt-vovinam Việt Võ Đạo. Trong chuyến viếng thăm Việt Nam này chúng em mong được đến thăm thầy Nguyễn Văn Chiếu-Chánh chưởng quản môn phái vovinam để tìm hiểu về môn phái nhã kính"

Võ sư Chánh chưởng quản môn phái vovinam Nguyễn Văn Chiếu cho biết đã nhận được thư ngỏ của Flores và đồng ý gặp mặt. Buổi gặp gỡ sẽ diễn ra vào 10 giờ ngày mai tại nhà riêng của võ sư Nguyễn Văn Chiếu ở Quận 8 (TP.HCM). Buổi gặp mặt này còn có tuyển vovinam Campuchia đang tập huấn tại TP.HCM. Đội tuyển vovinam TP.HCM cũng được triệu tập tham dự buổi gặp gỡ này.

Tuy nhiên đây là buổi giao lưu đơn thuần chứ không có giao đấu giữa 2 môn phái bởi vovinam không chủ trương học võ để giao đấu, thách đấu. Nếu cần các võ sinh vovinam sẽ biểu diễn một số bài quyền để khách mời thưởng lãm.

Saturday, 22 July 2017

Đại sư Nguyên Minh

Đại sư  Nguyên Minh nhỏ hơn Nguyên Tế Công 7 tuổi. Tên thật là Hoàng Tường Phong, chính là cháu nội Hoàng Hoa Bảo. Thuở nhỏ ông rất yếu ớt và bệnh tật liên miên ăn thịt cá thì nôn ra hết, cho rằng ông có duyên với phật. Gia đình gửi ông nương nhờ chùa Kim Cương, trụ trì ban cho ông pháp danh là Nguyên Minh. Sau đó, trụ trì viên tịch Đại sư Giác Hải khuyên ông nên hành thế giúp đời với lời tiên tri của Đại sư: “ Nhân dân vùng Hoàng Hà đang trông cậy nơi con. Hãy đem sở học của mình mà cứu dân độ thế đó mới là con đường tầm đạo” . Vâng lời thầy dạy, ông hạ sơn . Đến năm 1945, ông sang Việt Nam trong vai trò là viên tướng chỉ huy trong đại bát lộ quân của Lư Hán để giải giới quân Nhật. Năm 1949, ông rời quân ngũ, đưa cả gia đình sang Việt Nam sinh sống. Tại Sài Gòn ông mở garage sửa xe hơi ở góc ngã tư Hiền Vương – Vườn Lài ( nay là đường Hùng Vương giao với đường với Lê Hồng Phong), chủ trương “võ nghiệp tùy duyên”, ông không mở võ đường, không thu nhận đệ tử. Hàng chục năm ròng sống ẩn dật không bon chen với đời truyền dạy Vịnh Xuân quyền theo “căn duyên”, cũng đã đưa đến cho bậc đại cao thủ một đệ tử chân truyền.
Nguyễn Bảo Thạch người học trò này vốn là một cao thủ lừng danh, tinh thông tuyệt kỹ nhiều võ phái học Thiếu Lâm phái từ nhỏ nhưng cuối cùng lại bén duyên với Vịnh Xuân quyền từ Quyền sư Hồ Hải Long nhận làm đệ tử chân truyền của Vịnh Xuân quyền. Sau năm 1975, cùng lúc là cao thủ của nhiều võ phái, ông được giao nhiệm vụ dạy võ trong trại Chí Hòa. Số phận đẩy đưa ông gặp được Đại Lão võ sư Hạng Văn Giai ( viên tướng của Quốc Dân Đảng nổi tiếng), nhưng ông vẫn từ chối không truyền thay vao đó ông giới thiệu Nguyễn Bảo Thạch cho sư đệ của mình là Nguyên Minh đại sư.
Sau nhiều năm thử thách thì đã chấp nhận ông làm đệ tử thân tín, dốc lòng truyền thụ cho ông suốt 6 năm (1977-1983) để hoàn thiện hết trình độ cao đẳng và siêu đẳng, công nhận ông thuộc hàng Đại sư (có quyền nghiên cứu sáng tạo nguyên lí, lập một phái khác) mang hiệu Nam Anh. Trước khi rời Việt Nam Nguyên Minh Đại sư chính thức chỉ định Nam Anh Đại sư chính thức là truyền nhân thứ 6, Chưởng môn Vịnh Xuân Quyền chính thống tại Việt Nam.

Pierre Francois Flores từng bị đánh sấp mặt ở Hà Nội

Năm 2009, Võ sư 34 tuổi gốc Chile đã bị đối thủ hạ đo ván trong hơn 2 phút khi giao lưu võ thuật.

Cao thủ Vịnh Xuân (áo đen) từng bị đánh sấp mặt trên đường phố Hà Nội

Flores đã tích cực thách đấu với võ sĩ MMA Từ Hiểu Đông (người gây náo loạn làng võ Trung Quốc, sỉ nhục võ học truyền thống) và chưởng môn phái Nam Huỳnh Đạo Huỳnh Tuấn Kiệt, để nhằm lấy lại danh dự cho kungfu cổ truyền.
Tuy nhiên, không ai trong hai người được Flores khiêu chiến chấp nhận lời đề nghị thi đấu trực diện. Ngay sau đó, thì bậc thầy Karate người Việt Đoàn Bảo Châu bất ngờ ngỏ ý muốn tỉ thí với cao thủ Vịnh Xuân.
Trận so găng được cho là sẽ diễn ra ở Hà Nội trong vòng 1 tháng nữa. Flores sẽ phải đáp máy bay về Việt Nam.
Tuy nhiên, với trận thua ở Hà Nội vào năm 2009 của Flores, nhiều người lo ngại liệu võ sư này có thắng được bậc thầy Karate. Nhất là khi ông Đoàn Bảo Châu vẫn luôn tỏ ra thảnh thơi, ung dung dù trận so tài sắp đến gần.

Thursday, 20 July 2017

Sự khác biệt giữa Vịnh Xuân Việt Nam và Vịnh Xuân của Diệp Vấn

Cũng giống như tại Hồng Kông (Trung Quốc) hay Trung Hoa đại lục, Vịnh Xuân Việt Nam vẫn là môn võ thuật nội gia (sử dụng nội lực, thiên về nhu nhuyễn), trái ngược với các môn ngoại gia vốn thiên cương, chú trọng sức mạnh.
Tuy nhiên, Vịnh Xuân Việt Nam lại có những đặc điểm rất khác biệt so với chi phái tại Hồng Kông, vốn được phát triển bởi đại tông sư Diệp Vấn.
Sự khác nhau này nằm ở chỗ, Vịnh Xuân Hồng Kông phát triển theo hướng phổ cập rộng rãi nên đòn thế đơn giản.
Trong khi đó, Vịnh Xuân Việt Nam lại giữ được nguyên vẹn những nét độc đáo từ cổ xưa của Vịnh Xuân tại Trung Hoa đại lục.
Tại Hồng Kông, Diệp Vấn cách tân, bỏ đi những bộ chi sao (tay đeo vòng sắt khi thi triển công phu), đánh đơn giản, cứng cáp thì Vịnh Xuân Việt Nam vẫn giữ nguyên bộ chi sao và ra đòn rất uyển chuyển mềm mại.
Vịnh Xuân của Diệp Vấn phổ cập đại chúng nhưng muốn tinh túy phải tập rất lâu, ra đòn thì chú trọng thốn kình, đoản kình, ly thủ trong khi Việt Nam chú trọng nhu quyền, linh giác, bám dính để đánh.
Đòn thế của Vịnh Xuân Việt Nam cũng chú trọng ngắn, uyển chuyển, tùy địch chi biến, dựa vào đòn thế đối phương để vừa bám dính, vừa phản công. 
Thậm chí, ngay đến Trung Hoa đại lục cũng phải “ngưỡng mộ” Vịnh Xuân Việt Nam bởi tại Trung Quốc (nơi sản sinh ra Vịnh Xuân), không ít tuyệt kỹ đến nay đã thất truyền nhưng ở Việt Nam lại vẫn được bảo tồn nguyên vẹn.


Tiển tròn, Phùng mộc, Vũ bay Ngô hình, Hương y

"Tiển tròn, Phùng mộc, Vũ bay 
Ngô hình, Hương y bắt tay thành tài 
Ra đi ngày hãy còn dài 
Bẻ cành mai trắng viết vài câu thơ” 
Đây là bốn câu thơ nói về những sở trường khác nhau của các bậc tiền bối Vĩnh Xuân Bắc Kỳ, những người đã được tôn sư Tế Công truyền thụ những sở đắc về Vĩnh Xuân khi cụ sang Việt Nam. Những học trò đầu tiên này của tôn sư Tế Công, đã góp phần truyền bá và làm dạng danh môn Vĩnh Xuân Việt Nam. 


Tiển tròn: Đây là nói về khả năng của cụ Tiển đã sở đắc được nhiều về bộ tay Vĩnh Xuân do cụ Tế Công truyền dạy. Cụ Tiển cũng là người khá thành danh trong việc truyền bá Vĩnh Xuân ở Việt Nam, trong số này có một số người hiện đang dạy Vĩnh Xuân cũng khá nổi tiếng là bác sĩ Nhâm, Sinh, Lễ, ông Phan Dương Bình ở Mã Mây,và cả võ sư Xuân Thi. 
Phùng mộc: Đây là nói về sở đắc của cụ Phùng trong việc tập luyện công phu với mộc nhân. Cụ Phùng,với biệt danh Độc Long Nhãn, là học trò lớn tuổi nhất trong số các học trò của tôn sư Tế Công. Trước khi đến với môn Vĩnh Xuân, cụ Phùng đã tùng học khá nhiều môn võ khác và thành danh trong giới cao thủ thời bấy giờ. Chỉ đến khoảng giữa những năm 1970 cụ mới bắt đầu truyền dạy Vĩnh Xuân. Hiện nay việc truyền dạy Vĩnh Xuân của dòng cụ Phùng được đảm đương bởi võ sư Đỗ Tuấn ở Quan Thánh, võ sư Định ở làng Ngọc Hà (từng nổi danh là đôi bàn tay vàng của Vĩnh Xuân Hà Thành), võ sư Châu ở Làng Tám, võ sư Phong, võ sư Lợi và một số võ sư khác. 
Vũ bay: Đây là nói về cụ Vũ Quý ở Hải Dương, một học trò nổi tiếng khác của tôn sư Tế Công, được sở đắc những công phu về thân pháp. Sau này đã lập ra môn Vũ Gia Thân Pháp. Học trò cụ Vũ Quý từng nổi tiếng ở Hà Thành trong những năm 1980 với ba quả đấm (hạ địch thủ trong ba quả đấm). Chính vì vậy Vũ Gia Thân Pháp còn được gọi là phái ba quả đấm. 
Ngô Hình: Để nói về cụ Ngô Sĩ Quý ở Cầu Giấy, được sở đắc ngũ hình quyền của tôn sư Tế Công. Cụ Ngô Sĩ Quý cũng là một trong những người có công truyền bá Vĩnh Xuân mạnh mẽ ở Hà Nội. 
Hương y: Đây là nói về bác sĩ Việt Hương, trước đây cũng là học trò của tôn sư Tế Công, sau nay cũng theo tôn sư vào Nam. Không rõ dòng của bác sĩ Việt Hương có những ai và được truyền bá như thế nào. 
Rõ ràng những câu thơ trên đây chỉ là những lời lưu truyền, giúp cho các môn đồ Vĩnh Xuân nhớ về những người thầy của mình. 

Võ sư Vịnh Xuân tìm Huỳnh Tuấn Kiệt: Có ép người quá đáng?

Ngày 19/7, ông Pierre Flores cùng phái đoàn của mình tới tận Đình Nam Chơn (TP.HCM), võ đường của phái Nam Huỳnh Đạo để xin gặp Chưởng môn Huỳnh Tuấn Kiệt, nhưng ông đã không được toại nguyện. 


Chủ tịch Liên đoàn võ cổ truyền Việt Nam Hoàng Vĩnh Giang đã lên tiếng từ chối đề nghị cấp giấy phép giao đấu cho võ sư người Canada với Chưởng môn Nam Huỳnh Đạo. Đại diện phía Nam Huỳnh Đạo, ông Huỳnh Quốc Hùng giải thích họ đã làm theo lệnh của Liên đoàn võ cổ truyền Việt Nam và cơ quan chức năng.  
Vào thời điểm Pierre ghé thăm Đình Nam Chơn đã thu hút thêm rất nhiều người dân hiếu kỳ đứng ngoài khiến cảnh tượng bên ngoài võ đường của Nam Huỳnh Đạo trở nên nhộn nhịp hơn.
Nhận thấy có thể gây ra tình trạng mất trật tự công cộng, Pierre Flores và phái đoàn của ông đành rút vào một quán cafe gần đó trước khi quay trở lại một võ đường Vịnh Xuân phái Nam Anh tại T.P Hồ Chí Minh.
Võ sư Nam Anh Việt phía Vịnh Xuân đã bày tỏ nỗi bức xúc: "Có thể đây là lần đầu và là lần cuối ông Pierre Flores tới Đình Nam Chơn, bởi ông ấy chỉ muốn đến bắt tay giao hảo thôi nhưng phía Nam Huỳnh Đạo không cởi mở chút nào".

Wednesday, 19 July 2017

Cao thủ Vịnh Xuân nhờ xin phép để đấu Huỳnh Tuấn Kiệt

Phía Nam Huỳnh Đạo, với đại diện là võ sư Huỳnh Quốc Hùng, em trai chưởng môn Huỳnh Tấn Kiệt đặt ba điều kiện để ông Kiệt nhận lời thách đấu của Pierre: 1- Pierre phải có sự giới thiệu của phía Canada, của Chưởng môn Nam Anh; 2- cơ quan chức năng tại Việt Nam đồng ý cho trận đấu diễn ra; 3- võ sư Pierre phải đến với tâm thế không khiêu khích, có hoà khí võ đạo và sự tôn nghiêm.


Võ sư Nam Anh Kiệt, đại diện Vịnh Xuân Nam Anh tại Việt Nam, cho biết là sẽ xin cơ quan chức năng là Liên đoàn Võ thuật Việt Nam cho phép Flores đấu với võ sư Huỳnh Tuấn Kiệt, và đến với không khí tôn nghiêm, không khiêu khích. Còn điều kiện phải có sự giới thiệu của phía Canada, của Chưởng môn Nam Anh thì không cần thiết vì Flores thách đấu với tư cách cá nhân.
Phía Nam Huỳnh Đạo trước đó cũng cho biết, họ đã chờ đợi võ sư Flores vào tối 15/7 tại võ đường, nhưng không thấy võ sư Canada đến. 
Suốt thời gian võ sư Pierre đến Việt Nam, chưởng môn Huỳnh Tuấn Kiệt vẫn chưa xuất hiện. Ông uỷ quyền cho em trai, võ sư Hùng giải quyết mọi việc.

Tuesday, 18 July 2017

Ngô Sĩ Quý

Ngô Sĩ Quý sinh năm 1922 trong một gia đình khá giả ở phố Đông Kinh Nghĩa Thục (nay là các phố: Mã Mây, Hàng Bạc, Phất Lộc).


Từ nhỏ ông đã ham thích âm nhạc và võ thuật. Ông được một cha đạo ở Nhà thờ lớn dạy nhạc. Trong một lần nhà thờ tổ chức biểu diễn hòa nhạc cho Hội Hoa kiều, cha đạo đã giới thiệu Ngô Sĩ Quý biểu diễn một số bản nhạc violon cổ điển. Do mến tài nên Cam Thúc Cường (Cam Doo Kioong), con trai của gia đình Hoa kiều mà Tế Công làm quản gia, đã xin kết bạn và học violon với Ngô Sĩ Quý. Họ trở thành đôi bạn thân. Sau đó, Cam Thúc Cường giới thiệu Ngô Sĩ Quý với Tế Công và xin cho Ngô Sĩ Quý theo học (khoảng năm 1938).
Năm 1946, Ngô Sĩ Quý đi kháng chiến.
Năm 1951, Ngô Sĩ Quý sang Trung Quốc và có dịp tham dự Hội nghị võ thuật Trung Quốc tổ chức ở Nam Kinh. Trong hội nghị này, các nhà võ thuật Trung Quốc đưa ra đường lối duy trì và phát triển võ thuật Trung Quốc trở thành một môn văn hóa, rèn luyện mang lại sức khỏe cho con người, xây dựng đất nước. Họ đã lấy các môn nội gia của Trung Quốc, trong đó có Vĩnh Xuân, làm tiêu chí cho chiến lược này. Với quan điểm đó, khi trở về đất nước, Ngô Sĩ Quý đã truyền lại cho học trò quan điểm võ thuật với hiểu biết theo ngôn ngữ hiện đại và quan điểm duy vật biện chứng, được phân tích dựa trên hệ thống học từ cụ Tế Công.
Cả đời cống hiến cho Vĩnh Xuân,  ông đã đào tạo nhiều thế hệ học trò. Trong số đó nhiều người đã thành đạt và tiếp nối sự nghiệp của ông.
Ông mất năm 1997 tại Hà Nội, thọ 76 tuổi.

Trần Văn Phùng - Phùng Mộc

Cố Võ sư Trần Văn Phùng là một trong những học trò đầu tiên của sư tổ Nguyễn Tế Công (Hay còn gọi là Tài Cống). Ông là người lớn tuổi nhất trong số học trò của cụ Tế Công hồi bấy giờ, nên thường được các huynh đệ gọi là đại ca. Trước khi thụ giáo cụ Tế Công, ông đã là một cao thủ có tiếng thời bấy giờ với biệt danh Độc Nhãn Long. Ông học võ rất sớm (từ 16 tuổi), là người thông thạo nhiều môn quyền thuật, đặc biệt là Thiếu Lâm Sơn Đông và Thiếu Lâm Nam Quyền. Ông chơi thân với ông Việt Hương (chủ của hàng bánh Việt Hương ở phố Hàng Ngang thời đó), cũng là một trong những học trò xuất sắc của cụ Tế Công, rất giỏi về kiếm thuật. Ông Việt Hương đã giới thiệu ông Phùng với cụ Tế Công. Với một tinh thần võ đạo khảng khái, ông Phùng đã xin được thử tài nghệ của cụ Tế Công và ông đã thua. Cảm phục tài năng võ thuật của cụ Tế Công, ông đã xin làm đệ tử để được học môn Vĩnh Xuân của cụ Tế Công. Ông học võ Vĩnh Xuân của cụ Tế Công 10 năm liền từ năm 1936-1946, sau đó vẫn tiếp tục qua lại chăm sóc và học hỏi cụ Cống đến khi cụ đi miền nam năm 1954. Với năng khiếu võ thuật thiên bẩm và chuyên cần luyện tập, ông được sư phụ rất yêu mến mà truyền cho nhiều bí quyết của môn võ Vĩnh Xuân, đặc biệt là phương pháp luyện tập với mộc nhân.

Võ sư Trần Văn Phùng là một con người giản dị, cương trực và khảng khái, một đời cống hiến cho võ thuật. Cho đến tận lúc ông mất năm ông 85 tuổi, hàng ngày ông vẫn luyện công và dạy võ cho các học trò. Ở độ tuổi 80, ông vẫn đủ sức đánh lõm một tấm gỗ lim dày 10 phân. Quan điểm võ thuật của ông là càng đơn giản càng tốt và phải khổ luyện.
Ông nguyên quán ở Lý Nhân, Hà Nam, sinh ra và lớn lên tại Hà Nội. Ông là con một ông chủ cửa hàng tạp hóa tại số 16, phố Cửa Bắc. Thời thanh niên ông theo cách mạng (chiếm Bắc Bộ Phủ, bắt Cung Đình Vận – một tên phản động). Ồng là một kỹ sư điện có tiếng tại nhà máy điện Yên Phụ, lương rất cao 120 đồng bạc một tháng (thời đó một xu đã được một bơ gạo). Sau này về hưu, ông làm bảo vệ tại trường Việt Nam Cu Ba, ở phố Châu Long. Ông là một trong những người có công lớn trong việc truyền bá môn võ Vĩnh Xuân ở Việt Nam. Học trò của ông có rất nhiều, trong nước có, ngoài nước có, nhưng thành danh nhất phải kể đến giáo sư tiến sĩ Lê Kim Thành (hiện ở Nga), họa sĩ Đỗ Tuấn (Phó chủ tịch CLB Vĩnh Xuân Hà Nội), võ sư Trịnh Quốc Định (cố vấn võ thuật Liên đoàn Võ thuật Việt Nam), võ sư Vũ Văn Hồng (Phó giám đốc Trung tâm UNESCO về phát triển Văn hóa & Thể thao), họa sĩ Mai Anh Châu và nhiều người khác. Các học trò của ông đã và đang tiếp tục kế tục ông truyền dạy và làm rạng danh thêm cho môn Vĩnh Xuân Việt Nam.

Vũ Bá Quý - Vũ Gia Thân Pháp

Cụ Vũ Bá Quý (1912-1995) sinh tại Mỹ Hào, Hưng Yên. Ông  được coi là tổ sư của môn phái Vũ Gia Thân Pháp. Từ nhỏ, cụ Vũ Bá Quý đã là người ham mê võ thuật. Sớm ra Hà Nội từ những năm đầu thế kỷ XX, Cụ đã theo học và được chân truyền những tuyệt kỹ võ dân tộc từ cụ Lãnh binh Giang, một trong những bộ tướng giỏi của Tổng đốc Hoàng Diệu triều nhà Nguyễn. Sau đó Cụ đã thụ giáo qua rất nhiều môn phái, kể cả những môn võ của đồng bào dân tộc thiểu số phía Bắc. Tuy nhiên, bước ngoắt lớn nhất trong con đường võ học của cụ là vào những thập kỷ đầu thế kỷ XX, tại biên giới phía Bắc, Cụ đã có duyên gặp Tôn sư Tế Công, một trong những cao thủ của môn phái Vịnh xuân Trung Hoa, khi Tôn sư lánh nạn sang Việt Nam và trở thành người học trò Việt Nam đầu tiên của Tôn sư.
Cố võ sư Vũ Bá Quý (1912-1995)

Dưới sự chỉ bảo của Tôn sư, những kiến thức, kỹ năng võ thuật được tiếp thu từ trước của Cụ đã phát huy hiệu quả nhanh chóng. Trên cơ sở những nguyên tắc luyện võ đã được giác ngộ, Cụ tiếp tục nghiên cứu và tiếp thu tinh hoa của một số võ phái Nhật Bản và quyền Anh, rồi tự tu tập, cải tiến thành một lối đánh riêng đầy uy lực. Với những kỹ thuật nền tảng của môn phái Vũ Gia Thân Pháp sau này, Cụ đã thượng đài thành công và nhiều năm liền giữ đai vô địch võ đài Quy Nhơn (vô địch Đông Dương). Danh vô địch vẫn không làm mai một tâm huyết tìm tòi, học hỏi cải tiến nâng cao võ thuật của Cụ. Năm 1938, trong một lần vào Sài Gòn giao lưu, Cụ đã gặp một võ sư mà giới giang hồ gọi là Năm Sài Gòn. Khi giao đấu, vị võ sư này không thể so đòn được với Cụ, nhưng ngược lại, Cụ cũng không thể truy đuổi để ra đòn quyết định được, vì thân pháp của võ sư này rất nhanh nhẹn và tinh tế. Sau trận đấu, mặc dù là người chiến thắng (thắng điểm), nhưng bước qua hào quang của danh vô địch, của người chiến thắng, Cụ vẫn một mình đội lễ đến nhà người thua trận để xin chỉ giáo.Từ đó, với kỹ thuật thân pháp tiếp thu được, kết hợp cùng với toàn bộ sở học vốn có, cụ Vũ Bá Quý đã đúc rút nên kỹ thuật căn bản của môn Vũ Gia Thân Pháp.